|
1. Bệnh tim mạch ở người đái tháo đường a. Nguy cơ mắc bệnh b. Nguy cơ tử vong 2. Quản lý chất lượng glucose máu và bệnh tim mạch và bệnh tim mạch. 3. Tuổi thọ người bệnh đái tháo đường và bệnh tim 4. Đánh giá tiên lượng a. Tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong đái tháo đường type 1 b. Tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành trong đái tháo đường type 2 c. Những yếu tố tiên lượng chung
1. Bệnh tim mạch ở người đái tháo đường a. Nguy cơ mắc bệnh Người đái tháo đường cũng dễ bị mắc các bệnh tim mạch gấp 2-4 lần so với người bình thường. Người đái tháo đường có bệnh tim mạch là 45% (so với 25% ở người bình thường). Nghiên cứu ở người bệnh suy tim sung huyết sau 3 năm cho thấy 30% xuất hiện đái tháo đường type 2. b. Nguy cơ tử vong Nguyên nhân tử vong do tim mạch chung chiếm 70% từ vong ở người bệnh đái tháo đường. Một nghiên cứu liên tục trong 9 năm ở Mỹ, lứa tuổi 65-74 ( số liệu năm 1993) cho thấy: - Tử vong do bệnh tim- đái tháo đường ở nam là 4,9%, ở nữ là 3,2 % ( tương ứng ở người không bị đái tháo đường là 1,9% và 0,9%). - Tử vong do thiếu máu cục bộ - đái tháo đường là 3,8% ở nam và 2,3 % ở nữ (người không bị đái tháo đường tương ứng là 1,3% và 0,7%). Nguy cơ tử vong ở người đái tháo đường do bệnh lý mạch vành sơ với người không bị đái tháo đường cao gấp 3-4 lần. 2. Quản lý chất lượng glucose máu và bệnh tim mạch và bệnh tim mạch. Tỷ lệ bệnh tim mạch tăng cao có liên quan đến tình trạng kiểm soát glucose máu kém, người ta đã chứng minh được rằng, cứ tăng 1% HbA1c thì các yếu tố nguy cơ về bệnh lý tim mạch tăng từ 10-30%. Các công trình nghiên cứu có giá trị như DCCT và UKPDS, dùng liệu pháp điều trị tích cực nhằm quản lý tốt hàm lượng glucose máu, thấy tỉ lệ biến chứng tim mạch hạ đáng kể. Trong một nghiên cứu của bệnh viện Nội tiết, kết hợp với viện Lão khoa Việt Nam, dùng phương pháp thăm dò không thâm nhập-phương pháp đo đáp ứng giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD), để đánh giá, thăm dò chức năng nội mạc. Kết quả cho thấy: - Có sự suy giảm có ý nghĩa về chỉ số FMD ở người bệnh đái tháo đường type 2, so với người bình thường. - Có sự suy giảm có ý nghĩa về chỉ số FMD ở những người mắc bệnh đái tháo đường có kèm theo các yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid so với người mắc bệnh đái tháo đường không kèm theo các yếu tố nguy cơ kể trên. - Tình trạng kiểm soát glucose máu, biểu hiện bằng chỉ số HbA1c, có ảnh hưởng đáng kể đến chức năng nội mạc, HbA1c càng cao thì FMD càng giảm. Qua nghiên cứu này có thể rút ra kết luận rằng, chức năng nội mạc, biểu hiện bằng chỉ số FMD, tăng có ý nghĩa ở nhóm được điều trị tích cực khi so sánh với nhóm điều trị theo kinh điển. 3. Tuổi thọ người bệnh đái tháo đường và bệnh tim Tuổi thọ của người mắc bệnh đái tháo đường giảm đi đáng kể khi so sánh với tuổi thọ trung bình của người không bị đái tháo đường. Tuổi thọ càng giảm nhiều đặc biệt với người đái tháo đường mắc thêm các bệnh về tim mạch. | Tác giả | Đái tháo đường | Không ĐTĐ | Năm sống | Tỷ lệ tử vong % | | n | Tuổi TB | n | tuổi TB | Đái tháo đường | Không ĐTĐ | | Mak | 5944 | 64 | 888 | 61 | 1 | 14,5 | 8,9 | | Mieftinen Nam Nữ | 437 183 | 56 58 | 2699 746 | 54 58 | 1 1 | 44,2 36,9 | 32,6 20,2 | | Melchin | 194 719 | 65 69 | 1760 5957 | 62 67 | 10 5 | 90,0 62,0 | 65,0 38,0 | TB: trung bình ĐTĐ: đái tháo đường Một phân tích tổng hợp một số nghiên cứu đã ước tính nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở người đái tháo đường type 2 là 2,58 lần ở nam và 1,85 lần ở nữ. Những số liệu nghiên cứu của Rancho Bernardo theo dõi các đối tượng tuổi 40-79 trong 14 năm, thấy rằng tỷ lệ tử vong tăng ở những đối tượng mắc đái tháo đường, tỷ suất tương đối hiệu chỉnh theo yếu tố nguy cơ là 3,3 ở nữ và 1,9 ở nam. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ tử vong ở những người mắc đái tháo đường bao gồm giới nam, chủng tộc da đen, thời gian mắc mbệnh và việc có phải dùng insulin để cân bằng lượng glucose máu hay không. Người ta cũng thấy các nguyên nhân tử vong ở người mắc bệnh đái tháo đường type 2, cũng giống như người bệnh đái tháo đường type 1, đó là các biến chứng về tim mạch và suy thận. Bệnh tim mạch, chủ yếu là bệnh động mạch vành và bệnh mạch não, chiếm 65% tử vong. Về tuổi thọ, với nam giới mắc đái tháo đường sống trung bình ít hơn 9,1 năm và nữ sống trung bình ít hơn 6,7 năm so với những người không mắc đái tháo đường. Haffner và cộng sự đã nghiên cứu tỉ lệ tử vong ở 1000 người mắc đái tháo đường type 2 và 1300 người không mắc đái tháo đường và đã tìm thấy rằng tỷ lệ tử vong ở những người mắc đái tháo đường tương tự như ở người không mắc đái tháo đường nhưng bị nhồi máu cơ tim. Những số liệu này đã gợi ý quan niệm cho rằng những người thầy thuốc khi chăm sóc, điều trị những người mắc đái tháo đường phải xem họ như là họ đã bị nhồi máu cơ tim. Makamal và cộng sự khi nghiên cứu 1935 người bệnh nhập viện do nhồi máu cơ tim cấp đã tìm thấy, tỷ lệ tử vong ở những người mắc đái tháo đường được phát hiện trong giai đoạn theo dõi tuy tương tự như những người không mắc đái tháo đường nhưng bị nhồi máu cơ tim trước đó, nhưng cao gấp hai lần những người không mắc đái tháo đường và bị nhồi máu cơ tim cấp lần đầu. Malmberg và cộng sự khi nghiên cứu các số liệu cả đăng kiểm OASIS đã thấy rằng, những người bệnh mắc đái tháo đường phải nhập viện vì đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim không có sóng Q, có thời gian nằm viện tương tự như ở người bệnh không mắc đái tháo đường nhưng có bệnh tim mạch đã được chẩn đoán xác định. Thực tế trong 30 năm qua người ta đã phấn đấu làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do tim mạch ở Mỹ. Song do những thành quả tiến bộ của khoa học kỹ thuật lại hầu như không có tác động gì lên tỷ lệ tử vong của người bệnh đái tháo đường type 2. Cụ thể, tỷ lệ tử vong ở nam giới không mắc đái tháo đường có bệnh tim mạch giảm 36,4% so với giảm 13,1% ở nam giới mắc đái tháo đường, nữ không mắc đái tháo đường giảm 27% so với tăng 23% ở nữ giới mắc đái tháo đường. 4. Đánh giá tiên lượng a. Tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong đái tháo đường type 1 Theo dõi lâu người bệnh đái tháo đường type 1 đã chứng minh rằng những ca bệnh tim mạch biểu hiện lâm sàng đầu tiên, thường xảy ra ở lứa tuổi cuối ba mươi đến bốn mươi, bất kể đái tháo đường lâm sàng xuất hiện ở tuổi thiếu niên hay vị thành niên. Nguy cơ bệnh tim mạch tăng lên nhanh sau tuổi 40, đến tuổi 55 thì 35% người mắc đái tháo đường type 1 chết vì bệnh tim mạch so với 8% (cả 2 giới) người không mắc đái tháo đường. Nữ giới không mắc bệnh đái tháo đường, ở lứa tuổi sau mãn kinh, mất hầu hết khả năng tự bảo vệ vốn có khỏi bệnh tim mạch, nhưng ở phụ nữ có bệnh đái tháo đường thì khả năng này mất ngay từ khi bệnh đái tháo đường xuất hiện. Tỷ lệ hiện mắc bệnh tim mạch tăng cao trong nhóm người bệnh đái tháo đường có biến chứng thận (khoảng 30-40% người bệnh đái tháo đường có biến chứng thận). Một nghiên cứu ở những người bệnh đái tháo đường có protein niệu dai dẳng - được theo dõi ở Steno Memorial Hospitol, kết quả: Tỷ lệ tử vong do tim mạch tăng 37 lần so với quần thể chung, trong khi những người bệnh đái tháo đường không có protein niệu, tỉ lệ tử vong chỉ cao hơn 4,2 lần. Người bệnh đái tháo đường type 1 được theo dõi từ khi bắt đầu có microalbumin niệu, cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tim mạch nhiều hơn 8 lần so với người bệnh không có microalbumin niệu. Theo Krolewski và cộng sự, nguy cơ phát triển bệnh tim mạch ở những người bệnh có protein niệu dai dẳng cao gấp 15 lần so với người bệnh không có protein niệu. Các nghiên cứu chụp mạch máu đã cho thấy rằng hầu hết những người mắc bệnh thận đái tháo đường trên 45 tuổi có một hoặc nhiều chỗ hẹp động mạch vành có ý nghĩa lâm sàng. Dựa trên những kết quả nghiên cứu này, người ta cho rằng microalbumin niệu ở người bệnh đái tháo đường type 1 không chỉ là dấu hiệu của bệnh thận- đái tháo đường mà còn là một marker rõ rệt báo hiệu nguy cơ tim mạch -đái tháo đường. Các kết luận của nhiều nghiên cứu thống nhất rằng, cơ chế góp phần vào quá trình hình thành mảng xơ vữa động mạch người bệnh đái tháo đường có biến chứng thận, sự tăng huyết áp sẽ nặg hơn rất nhiều. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm tăng huyết áp, các bất thường về lipid, ly giải firbrin và những thay đổi về đông máu. Điều đáng lưu ý là tất cả các rối loạn này đều có thể được phát hiện ở giai đoạn sớm của bệnh thận đái tháo đường, thậm chí ngay cả khi chức năng thận còn bình thường. Tăng huyết áp thường có ở những người mắc bệnh thận đái tháo đường ngay khi nồng độ creatinin máu vẫn còn bình thường. Ở giai đoạn này tăng huyết áp đã là một yếu tố làm nặng thêm bệnh tim mạch ở những người bệnh đái tháo đường type 1. Bệnh thận đái tháo đường liên quan đến các lipoprotein gây xơ vữa, bao gồm tăng LDL, tăng VLDL, giảm HDL và tăng Lp (a). Tình trạng tăng đông được đặc trưng bởi yếu tố ức chế hoạt hóa plasminogen (PAI-1), yếu tố VII và fibrinogen. Cuối cùng, giảm chức năng thận cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tích tụ các AGE trong tuần hoàn và ở mô. Nguy cơ mắc bệnh thận đái tháo đường type 1, được xác định một phần bởi chất lượng của việc quản lý lượng glucose máu. Một số nghiên cứu cũng đã xác định rằng sự nhạy cảm gen góp phần vào tỷ lệ mắc cao bệnh tim mạch ở những người bệnh đái tháo đường type 1 mắc bệnh thận. Mối liên quan giữa tim mạch và bệnh thận cũng được nghiên cứu khá kỹ. Bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong thường gặp, gấp 2 lần ở cha mẹ của những người bệnh mắc bệnh thận so với những người đái tháo đường không mắc bệnh thận. Trong số những người có bệnh thận đái tháo đường, có biến chứng tim mạch, người có tiền sử gia đình có bệnh tim mạch cao gấp 6 lần so với người bệnh thận đái tháo đường nhưng không có biến chứng tim mạch trong tiền sử. Một thống kê khác, tiền sử bệnh tim mạch ở cả cha và mẹ hoặc chỉ ở cha của người bệnh đái tháo đường type 1 làm tăng nguy cơ bệnh thận ở con cái lên lần lượt là 10 lần và 3 lần. Ngược lại, người ta cũng thấy cha mẹ của những người con có bệnh thận đái tháo đường có huyết áp cao hơn so với những người cha mẹ có con mắc đái tháo đường nhưng không mắc bệnh thận. b. Tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành trong đái tháo đường type 2 Đái tháo đường type 2 làm tăng nguy cơ tương đối với bệnh tim mạch cao gấp từ 2-4 lần sơ với nguy cơ ở dân số chung. Nguy cơ bệnh tim mạch lại được chú ý ở phụ nữ, bởi vì khả năng tự bảo vệ chống lại xơ vữa động mạch ở phụ nữ trước tuổi mãn kinh hầu như bị mất hoàn toàn ở phụ nữ mắc đái tháo đường. Các yếu tố nguy cơ truyền thống đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xơ vữa động mạch ở những đối tượng mắc đái tháo đường, tỷ lệ tử vong và đau ốm do tim mạch ở những người mắc đái tháo đường. Các yếu tố nguy cơ này bao gồm đề kháng insulin , mức insulin và tăng đường máu. Thực tế đây là những đối tượng bị mắc Hội chứng chuyển hóa (xem thêm mục Hội chứng chuyển hóa).
c. Những yếu tố tiên lượng chung Nếu người bệnh đái tháo đường có thêm các yếu tố sau sẽ rất xấu cho bệnh lý tim mạch: - Tuổi cao. - Hút thuốc. - Albumin niệu (+). - Tăng đông máu. - Cân nặng khi sinh thấp. - Tỷ lệ acid béo tự do cao. - Có tổn thương mắt do đái tháo đường. - Rối loạn chuyển hóa lipid, đặc biệt là các LDL-c. - Tăng huyết áp. - Béo bụng. - Glucose máu tăng cao. - Hội chứng kháng Insulin. - Có các bệnh mạch máu khác. - Có yếu tố gia đình. Mức độ nguy hiểm sẽ gấp đôi nếu một người vừa mắc bệnh đái tháo đường, vừa có bệnh tim mạch. Tags: bệnh tim | biến chứng | chế độ ăn | dinh dưỡng | triệu chứng | type 2 | Đái tháo đường | Điều trị | đường huyết
|