|
1. Những vấn đề đại cương 2. Tổn thương giải phẫu bệnh a. Những thay đổi đại thể b. Đặc điểm vi thể 3. Sinh lý bệnh học a. Đặc điểm tổn thương và thay đổi chức năng thận nói chung b. Diễn biến tự nhiên của bệnh thận đái tháo đường c. Đái tháo đường type 1 d. Đái tháo đường type 2 1. Những vấn đề đại cương - Người bệnh đái tháo đường type 1
Thông thường 20-30% người bệnh đái tháo đường type 1 tiến triển tới suy thận giai đoạn cuối, buộc phải lọc máu. Hàng năm 40% số người bệnh phải lọc máu ở Mỹ là suy thận do đái tháo đường và một nữa trong số họ là đái tháo đường type 1. Để làm giảm bệnh lý thận do đái tháo đường, yếu tố quan trọng có tính quyết định là quản lý tốt nồng độ glucose máu và duy trì tốt số đo huyết áp của người bệnh. - Người mắc bệnh đái tháo đường type 2
Sau 20 năm, tỷ lệ mắc bệnh thận của người đái tháo đường type 2 là 5-10% ở lứa tuổi trên 30. Người mắc bệnh đái tháo đường type 2, có thể có tổn thương thận ngay tại thời điểm phát hiện ra bệnh đái tháo đường. 2. Tổn thương giải phẫu bệnh a. Những thay đổi đại thể Tăng kích thước thận là một đặc điểm của đái tháo đường type 1 sau một vài năm mắc bệnh. Các nghiên cứu thực nghiệm và in vitro giả thiết rằng, đó là kết quả của phì đại và tăng sinh ống thận. Đây có thể xem như một đáp ứng bù với quá trình lọc glucose và các dịch của cơ thể, do tăng nhu cầu tái hấp thu tích cực trong trường hợp đái tháo đường không được kiểm soát tốt. Nhiễm trùng đường tiết niệu cũng là nguyên nhân thường gặp, nhất là ở những phụ nữ mắc đái tháo đường. Những nhiễm trùng này có thể để lại những vi sẹo thận. Hoại tử núm thận là một đặc điểm của đái tháo đường lâu năm và có thể xảy ra sau khi người bệnh bị hôn mê tăng áp lực thẩm thấu. Hẹp động mạch thận do mảng xơ vữa đã được mô tả nhiều trong đái tháo đường type 2, tuy nhiên hẹp chức năng tương đối hiếm. b. Đặc điểm vi thể Có 3 loại thay đổi về hình thái bệnh học ở người đái tháo đường : - Xơ cứng tiểu cầu thận. - Thay đổi cấu trúc mạch, đặc biệt là các tiểu động mạch. - Bệnh ống thận kẽ. Hủy hoại cầu thận, ví dụ: Tăng sinh tế bào gian mạch, dày màng cơ bản là tổn thương hay gặp nhất và sớm nhất, thường xuất hiện trong vòng 2 năm kể từ khi được chẩn đoán. Xơ cứng tiểu cầu thận kiểu Kimmelstiel-Wilson vốn được xem là tổn thương đặc trưng cho bệnh thận đái tháo đường lại chỉ thấy ở một số người bệnh. Những thay đổi trong bệnh lý thận kẽ sẽ làm thay đổi bài tiết kali và hydro, gây tình trạng tăng kali máu và toan chuyển hóa là những đặc điểm hay gặp ở người biến chứng thận do đái tháo đường. Ngoài ra bệnh lý thận ở người đái tháo đường type 1 còn chịu ảnh hưởng của yếu tố gen. Người ta thấy tổn thương thận ở thế hệ thân cận nhất trong những gia đình có bệnh thận cao gấp 3 lần so với nhóm chứng. Với người bệnh đái tháo đường type 2 diễn biến bệnh thường khó nhận thấy bởi bệnh này thường xảy ra ở người cao tuổi, lúc này các tổn thương phối hợp khác rất hay gặp như tăng huyết áp, bệnh xơ cứng tiểu cầu thận, bệnh lý bàng quang do u xơ tiền liệt tuyến v.v.
3. Sinh lý bệnh học a. Đặc điểm tổn thương và thay đổi chức năng thận nói chung Chỉ một thời gian ngắn sau khi mắc bệnh đái tháo đường, tỷ lệ lọc cầu thận và lưu lượng máu đến thận đều tăng. Để thích ứng, thận tất yếu phải tăng cả về trọng lượng và kích thước. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tăng tỷ lệ lọc máu ở thận có liên quan đến nồng độ glucose máu và tỷ lệ này giảm xuống khi glucose máu được kiểm soát tốt. Lượng creatinin và ure có thể được giảm nhẹ vì có sự tăng của khối lượng thận. Cũng nên lưu ý, do hiện tượng tăng lọc nên có thể có protein niệu thoáng qua. Hiện tượng này sẽ mất đi sau khi điều chỉnh tốt glucose máu. Ở giai đoạn sớm, hình thái học của thận vẫn bình thường mặc dù thận có bị phì đại(về kích thước). Khi có tổn thương tăng sinh tế bào gian mạch và dày màng đáy, có thể đã có ảnh hưởng đến tỷ lệ lọc cầu thận, dòng máu đến thận tăng nhưng vẫn không có protein niệu. Khi nồng độ albumin >30mg/24 giờ được xem là có protein vi thể - microalbumin. Ngày nay, người ta cho rằng đây là dấu hiệu sớm nhất của tổn thương vi thận. Có nhiều yếu tố có thể làm tăng lượng microalbumin niệu như kiểm soát glucose máu kém, người bệnh bị các stress, bị nhiễm trùng, hoặc do chế độ ăn tăng protid, do tăng luyện tập thể lực v.v. Vì thế khi đặt chẩn đoán xác định có microalbumin niệu dương tính cần loại bỏ các yếu tố này. Thận trọng hơn người ta thường phải làm lại nhiều lần trước khi kết luận. Ngày nay, người ta coi microalbumin niệu là một test sàng lọc để tiến hành sớm các thăm dò, chẩn đoán bệnh lý mạch máu nhỏ. Khi đã có microalbumin niệu dương tính, nguy cơ bệnh lý tim mạch tăng lên rất đáng kể. Ngay sau khi đã có protein niệu, tỷ lệ lọc cầu thận có thể vẫn tăng, tỷ lệ này sẽ giảm khoảng 50% sau 3 năm có protein niệu. Thông thường lúc này creatinin máu sẽ tăng trên 2mg/dl(<177,0 mmol/l ) và ure máu sẽ vượt trên 40 mg/dl. Ở giai đoạn này, thông thường có khoảng 50% số người bệnh tiến triển tới suy thận giai đoạn cuối. Những yếu tố tham gia cải thiện tiên lượng bệnh là hạ thấp nồng độ LDL-c, tăng nồng độ HDL-c, thực hiện có kết quả liệu pháp chống tăng huyết áp, không hút thuốc lá, phối hợp chế độ ăn, dùng thuốc đa trị liệu với luyện tập thể lực có kế hoạch. Cho đến nay người ta vẫn chưa tìm thấy mối liên quan giữa bệnh lý võng mạc, thần kinh, tăng huyết áp với bệnh lý thận của người đái tháo đường trong giai đoạn sớm, còn ở giai đoạn bệnh thận tiến triển thì tổn thương của bệnh lý thận sẽ là song song với các rối loạn trên. Có nhiều bằng chứng để đưa đến giải thiết là chính tình trạng đái tháo đường đã ảnh hưởng đến bệnh lý về thận, đó là: - Thứ nhất: Ở giai đoạn khởi bệnh của đái tháo đường, không thấy có tổn thương thận qua hình ảnh sinh thiết. - Thứ hai: Những thay đổi cục bộ ở bệnh thận đái tháo đường xảy ra ở tất cả các type khác nhau của bệnh đái tháo đường. - Thứ ba: Bệnh lý thận đái tháo đường xảy ra ở tất cả các động vật thực nghiệm, thậm chí ở cả những thận được ghép. - Thứ 4: Ở động vật thực nghiệm đái tháo đường, liệu pháp điều trị insulin tăng cường (liệu pháp tích cực) hoặc cấy ghép tế bào beta có thể ngăn ngừa được những tổn thương mô bệnh học ở thận, thậm chí nếu can thiệp sớm những tổn thương mới có thể được phục hồi. - Thứ năm: Kiểm soát tốt glucose máu, có thể làm chậm tổn thương của thận. b. Diễn biến tự nhiên của bệnh thận đái tháo đường Cho đến nay cơ chế tổn thương thận do đái tháo đường còn chưa rõ. Có giả thiết cho rằng tổn thương thận là hậu quả của tăng glucose máu lâu dài, cũng có giả thiết khác cho rằng đó là hậu quả của một số rối loạn chuyển hóa đã khởi phát quá trình tổn thương ở thận. Nhiều nghiên cứu cho thấy yếu tố gen cũng có vai trò trong phát triển bệnh lý của thận. Các rối loạn chuyển hóa khởi đầu cho các đáp ứng bệnh lý của thận. Các rối loạn chuyển hóa khởi đầu cho các đáp ứng bệnh lý thận đái tháo đường trên cơ sở các tổn thương xơ hóa tiểu cầu thận do bệnh lý gen. Cũng có giả định rằng các tổn thương gen này có liên quan đến bệnh tăng huyết áp vô căn có tính gia đình. Tuy các giai đoạn của bệnh thận đái tháo đường đối với type 1 và type 2 sẽ được mô tả riêng rẽ theo mức bài tiết albumin niệu (UAER), nhưng điều quan trọng cần ghi nhớ rằng protein niệu là một biến số chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tổ rất khác nhau, cũng như bất kỳ ngưỡng chẩn đoán nào, về một khía cạnh nào đó, cũng còn nhiều bất cập cần được cố gắng khắc phục về mặt kỹ thuật. - Giai đoạn tăng lọc của cầu thận
Có nhiều bằng chứng cho thấy tăng tỷ lệ lọc cầu thận và tăng dòng máu đến thận ở giai đoạn sớm dù chưa làm thay đổi chức năng cũng có thể đã bắt đầu quá trình phá hủy thận, bởi chúng đã làm tăng áp lực lọc ở cầu thận. Giai đoạn này thường kết hợp với tăng kích thước cầu thận, tăng thể tích thận, tăng tỷ lệ lọc cầu thận. Giai đoạn tổn thương này sẽ có khả năng phục hồi, nếu kiểm soát tốt glucose máu. - Giai đoạn microalbumin niệu dương tính
Thường kèm theo tăng huyết áp nhẹ (≥140/90 mmHg), lúc này có thể đã có phì đại tim trái. Tổn thương giai đoạn này có thể làm chậm lại nhờ điều trị bằng các thuốc ức chế men chuyển. - Giai đoạn tổn thương thận
Tổn thương thận từ giai đoạn này là một quá trình tịnh tiến, quá trình này sẽ tiến triển nhanh hơn nếu có những đợt nhiễm trùng kèm theo, tình trạng huyết áp xấu đi rõ rệt, protein niệu xuất hiện, có thể kèm theo hội chứng thận hư, có tăng lipid máu, tăng nguy cơ thiếu máu cơ tim. Các tổn thương ở giai đoạn này sẽ chậm lại nếu dùng các thuốc ức chế men chuyển và giữ không để nhiễm trùng tiết niệu. Lúc này buộc phải lọc máu thận hoặc ghép thận. Các tổn thương kèm theo là bệnh lý mạch máu ngoại vi lan tỏa, bệnh lý võng mạc tăng sinh, bệnh lý thần kinh. Tiên lượng giai đoạn này xấu, thường kéo dài được khoảng 3 năm. c. Đái tháo đường type 1 Một số bất thường đã được mô tả liên quan đến chức năng thận vào thời điểm chẩn đoán đái tháo đường type 1. Chúng bao gồm tăng mức lọc cầu thận, tăng UAER và tăng kích thước thận. Rất nhanh, sau khi bắt đầu điều trị bằng insulin, UAER trở về mức bình thường ở hầu hết người bệnh. Tuy nhiên, ở khoảng 1/3 số trường hợp này mức lọc cầu thận vẫn còn cao. Tầm quan trọng của hiện tượng tăng mức lọc này của cầu thận đã và đang còn được tranh luận. Người ta cho rằng nó liên quan với sự tiến triển sau này đến bệnh thận, tuy nhiên đây vẫn là một giả thuyết cần được chứng minh. Có một số người mắc bệnh đái tháo đường nhưng không bao giờ phát triển đến bệnh thận đái tháo đường, UAER phần lớn vẫn giữ mức bình thường. Nhưng họ có thể có những giai đoạn có biểu hiện tổn thương của thận, ví dụ: Trong thời gian kiểm soát nồng độ glucose máu kém, sau đợt nhiễm toan ceton, trong thời gian bệnh gian phát cấp tính, hoặc sau luyện tập nặng, sau một bữa ăn giàu protein … Vào những thời điểm này UAER có thể tăng đến mức có microalbumin niệu, thậm chí có protein niệu, nhưng thường sau đó trở về mức bình thường. Sự “biến đổi tự nhiên” này là một trong những lý do tại sao người thầy thuốc phải thận trọng khi đặt chẩn đoán “có tổn thương thận”, thậm chí ngay cả khi đã có chẩn đoán microalbumin niệu, thậm chí có cả những triệu chứng, dấu hiệu “gợi ý” có bệnh thận lâm sàng. Sự biến đổi này cũng là một trong số các nguyên nhân gây ra sự khác nhau về tỷ lệ hiện mắc microalbumin niệu ở những người bệnh phải nhập viện qua các nghiên cứu ở Anh, Mỹ vào khoảng 20%, còn ở châu Âu vào khoảng 12%. Trong thực tế, ở những người mắc bệnh thận giai đoạn cuối,trong khu UAER tăng dần, microalbumin niệu vẫn tồn tại, có khi kéo dài tới 10 năm sau chẩn đoán đái tháo đường. Như vậy, có thể UAER vẫn còn ở mức bình thường trong vài năm sau chẩn đoán. Tuy nhiên, nhận xét này không phải lúc nào cũng đúng, ở 19% người bệnh có thời gian mắc bệnh tương đối ngắn (1-5 năm), đã được phát hiện có microalbumin niệu. Nhiều nghiên cứu thống nhất rằng, với đái tháo đường type 1, thời gian mắc bệnh liên quan chặt chẽ với tỷ lệ hiện mắc microalbumin niệu, có tới 40-50% dương tính sau khi mắc bệnh 30 năm. Tỷ lệ mắc mới thường được ước tính vào khoảng 2%, tỷ lệ này sẽ giảm đi nếu kiểm soát tốt lượng glucose máu. Một số thông số lâm sàng và hóa sinh ảnh hưởng đến sự tiến triển microalbumin niệu. Thực sự người ta đã từng đề xuất rằng giới hạn trên của UAER “bình thường” phải là 10µg/phút chứ không phải là 20µg/phút theo quy ước hiện nay. Con số 20µg/phút này được thừa nhận có phần tùy tiện, không dựa trên một chứng cứ khoa học chắc chắn nào. Có thể có giai đoạn microalbumin niệu không ổn định trước khi có microalbumin niệu bền vững được thiết lập. Giả thuyết này phản ánh sự thay đổi theo thời gian của UAER. Thực tế sự thay đổi này có thể gặp ở 40-50% các trường hợp. Đây cũng là một vấn đề khó giải quyết, khó tiên lượng mà người thầy thuốc lâm sàng thường gặp phải. Các yếu tố luôn có liên quan đến sự phát triển của microalbumin niệu là tình trạng kiểm soát kém chất lượng glucose máu, tăng huyết áp, sự có mặt của bệnh võng mạc. Có sự liên quan kém hằng định với giữa hút thuốc là và bất thường lipid máu. Bệnh thận đái tháo đường đã được xem là tiến triển không tránh khỏi của tất cả người mắc bệnh đái tháo đường. Thực sự, các nghiên cứu sớm đã đề xuất rằng khoảng 80% người mắc bệnh đái tháo đường type 1 có microalbumin niệu sẽ phát triển đến protein niệu –giai đoạn của bệnh thận lâm sàng. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây kéo dài từ 5-9 năm về tiến triển bệnh lại thấy rằng ở khoảng 30% người bệnh có microalbumin niệu, bài xuất albumin trở về bình thường, 50% vẫn chỉ duy trì ở mức có microalbumin niệu và chỉ có 20% tiến triển đến protein niệu. Như vậy , rõ ràng không phải tất cả các trường hợp có microalbumin niệu đều tiến triển đến bệnh thận lâm sàng, nhưng nguy cơ suy thận giai đoạn cuối vẫn còn cao hơn rất nhiều so với những người có UAER nằm trong giới hạn bình thường. Các nghiên cứu dịch tễ học thấy rằng những người mắc đái tháo đường có microalbumin niệu thì tiên lượng bệnh nặng hơn, so với những người có microalbumin niệu nhưng không bị đái tháo đường. Ở người không bị đái tháo đường thời gian mắc bệnh có khi tới trên 15 năm, nhưng tiến triển của bệnh thường là chậm hơn, chức năng thận được bảo tồn tương đối tốt. Tuy vậy, với người mắc bệnh đái tháo đường tiên lượng bệnh sẽ là tốt hơn nhiều lần, nếu đạt được các chỉ tiêu về kiểm soát lượng glucose máu, huyết áp, các rối loạn chuyển hóa lipid. Các nghiên cứu từ năm 1953 đến năm 1962 cho thấy tỉ lệ mắc bệnh thận lân sàng sau 25 năm mắc đái tháo đường type 1 là khoảng 41%. Trong một số các nghiên cứu gần đây, từ năm 1986 đến những năm 1990, tỷ lệ mắc bệnh thận lâm sàng sau thời gian mắc đái tháo đường type 1 từ 15- 29 năm là 26%. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh hạ thấp từ 14-17%. Những số liệu này phần nào nói lên sự tiến bộ của công tác điều trị, quản lý bệnh đái tháo đường. Trong trường hợp mắc bệnh đái tháo đường type 1, mức lọc cầu thận có thể bắt đầu giảm song hành cùng với sự tăng UAER, ở mức có microalbumin niệu. Tốc độ giảm khác nhau đáng kể từ người này sang người khác nhưng tương đối hằng định ở mỗi người. Nhiều nghiên cứu thấy rằng, với tốc độ giảm trung bình của mức lọc cầu thận là 10-12 ml/ph/năm, thì cần phải có 8-10 năm để bệnh tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối. Huyết áp là yếu tố quyết định quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc độ giảm mức lọc cầu thận. Ngày nay nhờ chế độ quản lý tích cực số đo huyết áp, tốc độ giảm chỉ còn vào khoảng 4ml/ph/năm. Khi chức năng thận suy giảm, hiện tượng quá tải dịch và phù phổi có thể xảy ra, thậm chí ngay cả khi không có giảm albumin máu. Trong trường hợp này có sự kết hợp với bệnh tim mạch gây suy giảm chức năng thất trái. d. Đái tháo đường type 2 Các nghiên cứu gần đây cho thấy diễn biến của phát triển bệnh lý thận trong đái tháo đường type 2 tuy có một số khác biệt, nhưng nói chung tương tự như đái tháo đường type 1. Bệnh đái tháo đường, trong thực tế đã có nhiều năm trước khi biểu hiện, chẩn đoán lâm sàng, vì thế, UAER vào thời điểm chẩn đoán có thể bình thường hoặc cao. Khi glucose máu được kiểm soát tốt, bài xuất albumin lại trở về giới hạn bình thường trong nhiều trường hợp. Có từ 10-48% người bệnh đái tháo đường type 2, có microalbumin niệu tồn tại dai dẳng. Đây được cho là dấu hiệu phản ánh thời gian dài bị đái tháo đường trước khi có biểu hiện lâm sàng và tổn thương cấu trúc thận là không còn khả năng cải thiện. Một số nghiên cứu thấy rằng tại thời điểm chẩn đoán bệnh đái tháo đường, nếu người bệnh có microalbumin niệu dai dẳng thì mức huyết áp và HbA1c luôn cao. Trong các nghiên cứu cắt ngang, tỷ lệ hiện mắc microalbumin niệu rất khác nhau từ 10-42%. Tỷ lệ này phụ thuộc vào sự lựa chọn quẩn thể nghiên cứu và dân tộc. Tỷ lệ cao thường thấy ở người Anh gốc A, người da đỏ Pima, người Mỹ gốc phi, thổ dân châu Mỹ, những cư dân đảo Maori, Thái Bình Dương. Tỷ lệ này thấp hơn ở những người da trắng sống ở châu Âu. Mối liên quan giữa tỷ lệ mắc microalbumin niệu với thời gian mắc đái tháo đường type 1 không rõ ràng như đã thấy đái tháo đường type 1. Các nghiên cứu theo chiều dọc cho thấy rằng tốc độ tiến triển từ bài xuất albumin bình thường đến microalbumin niệu là 2-4%/năm. Các yếu tố liên quan hằng định nhất với sự tiến triển của bệnh lý thận bao gồm tình trạng bài xuất albumin lúc mới được phát hiện, tình trạng quản lý glucose máu(HbA1c), quản lý huyết áp và nồng độ cholesterol huyết thanh. Cho đến nay có rất ít thông tin về quá trình tiến triển từ microalbumin niệu đến protein niệu ở người đái tháo đường type 2. Trong các quần thể người da trắng, khoảng 1/3 người bệnh đái tháo đường type 2 có microalbumin niệu phát triển đến bệnh thận lâm sàng trong thời gian 5 năm. Sau 20 năm mắc đái tháo đường type 2, tỷ lệ mắc mới tích lũy bệnh thận lâm sàng là 27%, tỷ lệ này tương tự như ở đái tháo đường type 1. Ở người da đỏ Pima, trên 50% phát triển đến protein niệu trong vòng 20 năm. Tỷ lệ tăng huyết áp ở người mắc bệnh đái tháo đường type 2 luôn cao, mối liên quan giữa tăng huyết áp với microalbumin niệu, rồi protein niệu cũng phức tạp hơn nhiều so với đái tháo đường type 1. Hầu hết những người có microalbumin niệu hoặc protein niệu đều có tăng huyết áp đồng hành và huyết áp của họ cũng tiếp tục tăng lên khi có mức albumin niệu tăng dần lên. Sự tiến triển của bệnh thận giai đoạn cuối ở người đái tháo đường type 1 và type 2 rất giống nhau. Mức lọc cầu thận thường ổn định hoặc đôi khi cao lúc bắt đầu có microalbumin niệu, và chỉ giảm khi bệnh thận lâm sàng phát triển. Ở những người có bệnh thận lâm sàng, tốc độ giảm mức lọc cầu thận tương tự như ở đái tháo đường type 1, mức 10-12ml/ph/năm, tuy có một số nghiên cứu thấy rằng nó có thể lớn hơn ở những người không thuộc các chủng tộc da trắng. Ở Anh, một thống kê cho thấy trị liệu thay thế thận ở những người Caribee gốc phi và người châu Á- Ấn Độ cao hơn từ 3,6 đến 4,2 lần so với người da trắng. Nhận xét này phù hợp với những dữ liệu từ các nghiên cứu ở các quốc gia châu Âu khác. Số lượng người bệnh đái tháo đường cần được thay thế thận tiếp tục tăng lên nhanh chóng trên khắp thế giới. Vào năm 2000, tỷ lệ mắc mới hàng năm cao nhất được báo cáo là ở Mỹ (145 người bệnh đái tháo đường/ 1 triệu dân), ở Nhật Bản và Đài Loan tỷ lệ này là 100/1 triệu dân. Tỷ lệ cao nhất trong khối liên minh châu Âu là Đức với tỷ lệ 63/ 1 triệu dân. Ở hầu hết các quốc gia, đái tháo đường hiện là nguyên nhân đơn độc phổ biến nhất của bệnh thận giai đoạn cuối. Những nguyên nhân khác làm tăng tỉ lệ thay thế thận còn bao gồm do tăng số người tự nguyện điều trị bệnh thận giai đoạn cuối, thường thấy ở những người cao tuổi và giảm tỷ lệ tử vong sớm do bệnh tim mạch ở nhóm dân số nguy cơ cao này. Tuy nhiên, cũng có sự gia tăng nhanh hơn dự tính về số lượng người bệnh đái tháo đường mắc bệnh thận giai đoạn cuối, đặc biệt ở các dân số không phải người da trắng, mặc dù có những cải thiện về kiểm soát đường máu và huyết áp. Tốc độ tăng nhanh cũng gợi ý đến các yếu tố môi trường. Ví dụ: Một dạng đặc biệt cầu thận liên quan đến béo phì đã được nghiên cứu, người ta đã thấy chính sự tăng cân nặng của quần thể nghiên cứu đã ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh thận giai đoạn cuối trong đái tháo đường type 2. Nói chung sự phát triển và diễn biến của bệnh thận ở những bệnh nhân đái tháo đường type 2 da trắng rất giống với những bệnh nhân đái tháo đường type 1. Những khác biệt giữa hai type có liên quan chủ yếu đến sự chẩn đoán chậm trễ và tuổi cao, và vì thế có bệnh tim mạch rõ rệt hơn. Trong các quần thể nghiên cứu, các tộc người không phải người da trắng, có tỷ lệ mắc bệnh thận đái tháo đường cao hơn và sự tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối có thể phát triển nhanh hơn.Tags: HbA1C | huyết áp | Microalbumin | niệu | prôtêin | Thận | đường huyết
|